A. Quán Âm Linh Cảm
Ở Orange County, trong giới Phật tử, có lẽ có rất nhiều người không xa lạ gì với Hoà Thượng Thích Đức Niệm vị trụ trì Phật Học Viện Quốc Tế ở thành phố Sepulveda, nay là North Hills. Hoà thượng Thích Đức Niệm đã viên tịch hơn 10 năm, nhưng đã để lại rất nhiều bộ kinh sách Phật Pháp ấn tống. Thật là một công đức rất lớn. Trong cuộc đời hành đạo từ Việt Nam qua đến Mỹ, Hoà Thượng đã ghi lại những chứng tích sự linh cảm của đức Quán Thế Âm Bồ Tát, do đó Phật tử có thể cảm nhận được Phật lực đang luôn luôn che chở cho bản thân mình trong những khi khốn khó. Qua đó chúng ta có thể thấy bằng niềm tin về sự hiện hữu của chư Thánh Chúng từ Thế Giới Cực Lạc, luôn luôn có mặt và gần gũi với chúng sanh một cách rõ ràng. Sau đây là những dòng ghi nhận từ thủ bút của Hoà Thượng Thích Đức Niệm.
“ Vào năm 1957, tôi (Hoà Thượng Thích Đức Niệm) được phái đến Phan Rí thuộc quận Hoà Đa tỉnh Bình Thuận để chủ lễ và thuyết giảng trong dịp đại lễ Phật Đản. Ở đây, tôi được gặp ông Trúc Viên là một thành viên trong ban tổ chức đại lễ Phật Đản năm ấy.
Ông Trúc Viên là người học thức, tánh tình cương trực lại giàu lòng từ thiện hay giúp đỡ người nghèo. Đặc biệt là ông thường gần gũi con nít nhà nghèo, phân phát cho chúng kẹo bánh, nói chuyện chơi với chúng. Ông cũng là hiệu trưởng trường trung học Phan Rí, và sau này là Dân Biểu Quốc Hội thời Đệ Nhị Cộng Hoà.
Vào một buổi đàm đạo thân mật, ông Trúc Viên chỉ vào một vết thẹo lớn bằng muỗng canh nơi cổ họng dưới càm ông, rồi cười hỏi mọi người:
- Thưa quí vị! Quí vị có biết tại sao tôi có vết thẹo to này không? Vết thẹo này với sự tham gia trong ủy ban tổ chức Phật Đản hôm nay có một ý nghĩa liên hệ hết sức đặc biệt.
Rồi ông cười kể tiếp:
- Mẹ tôi vốn là một Phật tử thuần hành. Bà phụng thờ đức Quán Thế Âm Bồ Tát rất mực chí kính, đêm đêm hương đèn thành tâm khấn nguyện cho gia đình con cái đều được an lành, học hành thành đạt. Tôi thì trái lại không tin Phật trời gì ráo. Vì thế thỉnh thoảng chợt nghe những lời mẹ tôi quỳ lạy thành khẩn khấn nguyện trước bàn thờ Bồ Tát Quán Thế Âm, thì bụng tôi thầm cười với ý nghĩ: Đó là việc mê tín!
Thú thật quí vị! Chẳng nói dấu gì, tôi được học Tây, nên mang tinh thần khoa học sống rất thực tế. Do đó việc thắp hương khấn vái Phật trời đối với tôi là việc mê tín viễn vong, vì tôi đã được gởi trường dòng Thiên Chúa từ bé.
Thấy tôi ngang tánh, không có niềm tin Phật thánh thiêng liêng, mẹ tôi không bằng lòng, nhưng bà rất mực thương tôi, vì tôi là đưá con học khá nhất nhà, và tôi cũng lại tỏ ra thương mẹ nhiều nhất.
Có những bữa mẹ tôi bận việc, hoặc những ngày không được sạch mình, bà dịu ngọt nhờ tôi thắp hương bàn Phật dùm bà. Vì thương nể mẹ, không làm sợ mẹ buồn, nên tôi phải làm. Nhưng khi đốt hương cắm lên lư đồng, mắt tôi không nhìn thẳng tượng Bồ Tát Quán Âm mà hướng đi nơi khác, nên chẳng có dịp chú ý nhìn kỹ tượng Quán Âm mẹ tôi đang thờ trên bàn hình dáng màu sắc Ngài ra sao.
Tay tôi tuy cấm nhang vào lư, mà mắt tôi thì hời hợt nhìn nơi khác, cắm xong cũng chẳng chấp tay bái xá. Mẹ tôi thấy vậy đã nhiều lần mắng khuyên, nhưng tôi tánh nào vẫn nguyên tật nấy. Mẹ tôi kiên nhẫn, vẫn không nản lòng, cứ tìm cơ hội để nhờ tôi thắp nhang bàn Phật dùm bà. Tôi cũng vẫn làm, nhưng lòng không cảm nhận niềm tin tưởng vào nơi Bồ Tát.
Đến năm 1951, vì tôi tỏ ra chống Pháp mãnh liệt, nên chúng bắt tôi nhốt tù một thời gian, thuyết phục tôi hợp tác với chúng không được, sau đó chúng bịt mắt tôi rôì trói ké nẩy ức hai tay buộc ngược sau lưng đưa lên máy bay chở ra vùng rừng Liên Khu Năm, giữa khoảng hai tỉnh Phú Yên và Bình Định, và đạp tôi ra khỏi máy bay. Tôi rơi giữa hư không một đỗi, tiếp đó thân tôi đụng vào những thân cành cây, lộn nhào nhiều vòng rồi nằm sóng sượt trên mặt đất bất tỉnh. Liền đó bọn du kích Việt Minh nhảy đến đâm xối xả mấy nhát vào cổ tôi. Tôi sực tỉnh cố sức la to :”Xin các anh đưa tôi về gặp đồng chí chủ tịch chỉ huy của các anh. Tôi là Trúc Viên đây.”!
Nghe tôi la to có vẻ quả quyết quen thân với cấp trên của họ, nên họ dừng tay lại, thôi đâm vào cổ tôi nữa. Họ gạn hỏi tông tích tôi. Tôi nói rõ lý do tại sao tôi bị đạp ra khỏi máy bay, rớt xuống nơi đây, và tôi đuợc họ mở trói. Sau khi biết được nơi tôi đang bị rơi xuống là nơi nào, lanh trí tôi nói đúng tên vị chủ tịch Liên Khu Năm. Họ liền đưa tôi đến nơi băng bó vết thương nơi cổ họng, và tiếp đó theo lời yêu cầu của tôi họ đưa đến chiến khu, nơi đây tôi gặp bạn bè đang ở trong hàng ngũ Việt Minh chống Pháp.
Sau thời gian dưỡng bệnh, vết thương nơi cổ đã lành hẳn, các bạn khuyên tôi nên theo họ ở lại rừng gia nhập Mặt Trận Việt Minh Kháng Chiến chống Pháp. Nhưng tôi đã khéo chối từ, vì tôi biết rõ những người họ là công cụ của Cộng Sản đội lớp Việt Minh.
Nói đến đây ông Trúc Viên ngừng, hớp miếng trà rồi nói tiếp:
- Quí vị có biết khi tôi bị đạp ra khỏi máy bay rồi, lúc đó tinh thần tôi như thế nào không? Thưa thiệt, lạ thay! Lúc đó, tự nhiên tôi nhớ lại lời cầu nguyện của mẹ tôi hằng đêm mà bà thường niệm : ”Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát .” Liền đó, vô cùng kỳ diệu, hình ảnh đức Quán Thế Âm Bồ Tát hiện rõ trong óc tôi. Tự nhiên tôi liền tâm niệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn cho con”.








